Luật doanh nghiệp năm 2014 và những điểm cần lưu ý khi áp dụng Luật cạnh tranh 20-08-2015

Luật doanh nghiệp năm 2014 và những điểm cần lưu ý khi áp dụng Luật cạnh tranh

edf40wrjww2News:News_Intro
Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày được Quốc hội thông qua ngày 16 tháng 11 năm 2014 và bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2015. Bên cạnh việc kế thừa các quy định trước đây, Luật doanh nghiệp năm 2014 (sau đây gọi là Luật doanh nghiệp) cũng có nhiều nội dung quy định mới mang tính đột phá. Điều này sẽ ít nhiều tác động ảnh hưởng tới việc áp dụng Luật cạnh tranh nên cần phải được lưu ý.

edf40wrjww2News:News_Content

1. Về mối quan hệ giữa Luật doanh nghiệp và Luật cạnh tranh

Trước tiên có thể thấy Luật doanh nghiệp và Luật cạnh tranh có mối quan hệ vô cùng mật thiết, có sự tác động qua lại và tương hỗ với nhau nên sự thống nhất, phù hợp hoặc mâu thuẫn trong các quy định của hai luật này sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả áp dụng và thực thi của Luật cạnh tranh.

Với mục đích quy định về việc thành lập, tổ chức quản lý, tổ chức lại, giải thể và hoạt động có liên quan của doanh nghiệp, bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân; quy định về nhóm công ty[1], Luật doanh nghiệp chính là cơ sở pháp lý để tổ chức và thiết lập mô hình hoạt động cho các loại hình doanh nghiệp thuộc các hình thức sở hữu khác nhau trong nền kinh tế - những nhân tố tạo nên các hoạt động cạnh tranh trên thị trường.

Tuy nhiên, để các doanh nghiệp sau khi được thành lập có thể cạnh tranh một cách hiệu quả thì cần thiết phải có một khung pháp lý thống nhất điều chỉnh các hoạt động cạnh tranh của doanh nghiệp để đảm bảo giữa các doanh nghiệp không có tình trạng cạnh tranh bằng các thủ đoạn tiêu cực hoặc bằng các hình thức phá vỡ cạnh tranh. Luật cạnh tranh chính là công cụ nhằm tạo lập và đảm bảo một môi trường kinh doanh bình đẳng và lành mạnh cho tất cả các chủ thể kinh doanh trên thị trường bằng việc kiểm soát đối với các hành vi phản cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường. Với việc quy định kiểm soát các hành vi hạn chế cạnh tranh, hành vi cạnh tranh không lành mạnh, Luật cạnh tranh được kỳ vọng tạo ra hành lang pháp lý để mọi doanh nghiệp đều được hưởng môi trường cạnh tranh bình đẳng, hợp pháp.

Như vậy, có thể nói Luật doanh nghiệp chính là cơ sở pháp lý cho sự hình thành doanh nghiệp còn Luật cạnh tranh là cơ sở điều chỉnh hành vi cạnh tranh và thực hiện kiểm soát đối với các hành vi phản cạnh tranh của doanh nghiệp. Vì vậy, mặc dù là hai luật khác nhau nhưng giữa Luật doanh nghiệp và Luật cạnh tranh có mối quan hệ biện chứng, thống nhất với nhau, giống như hai mảnh ghép không thể thiếu cho các hoạt động cạnh tranh trên thị trường. Với ý nghĩa như vậy, việc hiểu rõ các quy định và vận dụng một cách linh hoạt, mềm dẻo mối quan hệ tương hỗ của hai luật này sẽ giúp ích rất nhiều cho công tác thực thi và áp dụng Luật cạnh tranh. Việc thực thi và áp dụng Luật cạnh tranh đặt trong mối quan hệ với Luật doanh nghiệp là rất cần thiết và có ý nghĩa hết sức thiết thực.

2. Về khái niệm doanh nghiệp

So với trước đây, khái niệm doanh nghiệp đã được quy định một cách cụ thể và rõ ràng hơn trong Luật doanh nghiệp, theo đó doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh (Khoản 7, Điều 4, Luật doanh nghiệp). Bên cạnh đó, Luật doanh nghiệp cũng đưa ra khái niệm về doanh nghiệp Việt Nam, doanh nghiệp nhà nước, theo đó:

-         Doanh nghiệp Việt Nam là doanh nghiệp được thành lập hoặc đăng ký thành lập theo pháp luật Việt Nam và có trụ sở chính tại Việt Nam (Khoản 9, Điều 4, Luật doanh nghiệp),

-         Doanh nghiệp nhà nước là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.

Mặc dù không trực tiếp đưa ra khái niệm nhưng tại Khoản 1, Điều 3, Luật cạnh tranh quy định tổ chức, cá nhân kinh doanh (sau đây gọi chung là doanh nghiệp) bao gồm cả doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, doanh nghiệp hoạt động trong các ngành, lĩnh vực thuộc độc quyền nhà nước và doanh nghiệp nước ngoài hoạt động ở Việt Nam.

Như vậy, có sự khác biệt trong cách hiểu về doanh nghiệp được đưa ra trong Luật doanh nghiệp và Luật cạnh tranh. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng về cơ bản và nội hàm trong khái niệm về doanh nghiệp được dẫn trong hai luật này là phù hợp và có sự thống nhất một cách tương đối, không có sự mâu thuẫn. Khái niệm doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp phải được sử dụng một cách chính thống, làm cơ sở pháp lý và để có một cách hiểu thống nhất về doanh nghiệp. Còn trong quá trình áp dụng và thực thi Luật cạnh tranh, khái niệm doanh nghiệp sẽ phải được hiểu và vận dụng một cách linh hoạt, mềm dẻo bao gồm doanh nghiệp là tổ chức theo quy định của Luật doanh nghiệp và một số chủ thể kinh doanh khác như cá nhân kinh doanh, hộ gia đình kinh doanh[2].

Bên cạnh đó, trên cơ sở nội dung quy định của Luật doanh nghiệp có thể xác định được một số loại doanh nghiệp thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật cạnh tranh, cụ thể:

-         doanh nghiệp sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích (Khoản 1, Điều 3, Luật cạnh tranh) là doanh nghiệp sản xuất, cung ứng các sản phẩm, dịch vụ thiết yếu đối với đời sống kinh tế - xã hội của đất nước, cộng đồng dân cư của một khu vực lãnh thổ mà Nhà nước cần bảo đảm vì lợi ích chung hoặc bảo đảm quốc phòng, an ninh và việc sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ này theo cơ chế thị trường khó có khả năng bù đắp chi phí (Khoản 22, Điều 4, Luật doanh nghiệp),

-         doanh nghiệp nước ngoài hoạt động tại Việt Nam.

Ngoài ra, mặc dù quy định doanh nghiệp là tổ chức, cá nhân kinh doanh nhưng Luật cạnh tranh không đưa ra khái niệm kinh doanh. Vì vậy, nội dung này được hiểu theo quy định của Luật doanh nghiệp, theo đó kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi (Khoản 16, Điều 4, Luật doanh nghiệp).

3. Vấn đề đảm bảo quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp

Luật doanh nghiệp và Luật cạnh tranh đều có các quy định mang tính thống nhất chung, phù hợp và xuyên suốt đảm bảo cho quyền tự do kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trên thị trường trong khuôn khổ một môi trường cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng, không có sự phân biệt hình về hình thức sở hữu hay các điều kiện doanh nghiệp. Tại Điều 7, Luật doanh nghiệp quy định doanh nghiệp có quyền tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà luật không cấm. Có quyền tự chủ kinh doanh và lựa chọn hình thức tổ chức kinh doanh; chủ động lựa chọn ngành, nghề, địa bàn, hình thức kinh doanh; chủ động điều chỉnh quy mô và ngành, nghề kinh doanh. Có quyền lựa chọn hình thức, phương thức huy động, phân bổ và sử dụng vốn. Có quyền chủ động tìm kiếm thị trường, khách hàng và ký kết hợp đồng. Có quyền kinh doanh xuất khẩu, nhập khẩu. Có quyền tuyển dụng, thuê và sử dụng lao động theo yêu cầu kinh doanh. Có quyền chủ động ứng dụng khoa học và công nghệ để nâng cao hiệu quả kinh doanh và khả năng cạnh tranh. Có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của doanh nghiệp. Có quyền từ chối yêu cầu cung cấp nguồn lực không theo quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, Điều 5, Luật doanh nghiệp quy định Nhà nước công nhận sự tồn tại lâu dài và phát triển của các loại hình doanh nghiệp; bảo đảm bình đẳng trước pháp luật của các doanh nghiệp không phân biệt hình thức sở hữu và thành phần kinh tế; thừa nhận tính sinh lợi hợp pháp của hoạt động kinh doanh. Còn theo quy định của Luật cạnh tranh, Nhà nước đảm bảo quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp, theo đó doanh nghiệp được tự do cạnh tranh trong khuôn khổ pháp luật. Nhà nước bảo hộ quyền cạnh tranh hợp pháp trong kinh doanh. Việc cạnh tranh phải được thực hiện theo nguyên tắc trung thực, không xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, của người tiêu dùng (Điều 4, Luật cạnh tranh).

4. Vấn đề về người đại diện của doanh nghiệp

Khoản 2, Điều 13, Luật doanh nghiệp quy định cho phép Công ty TNHH và Công ty Cổ phần có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật. Số lượng, chức danh quản lý và quyền, nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp được quy định cụ thể tại Điều lệ công ty. Đối với doanh nghiệp thì đây là quy định hoàn toàn mới mẻ, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp tận dụng được mọi cơ hội kinh doanh thông qua các đại diện theo pháp luật. Đây cũng là một trong những điểm cần phải lưu ý trong quá trình áp dụng và thực thi Luật cạnh tranh, đặc biệt là trong hoạt động điều tra các vụ việc hạn chế cạnh tranh. Bởi với quy định này thì số lượng đối tượng có khả năng tham dự và đưa ra các quyết định liên quan đến hành vi phản cạnh tranh trong một doanh nghiệp có thể tăng lên, vì vậy, các phương án đấu tranh, điều tra để thu thập thông tin chứng cứ trong các vụ việc điều tra cần có sự linh động điều chỉnh cho phù hợp nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong hoạt động điều tra. Ngoài ra, vấn đề xem xét và cân nhắc về tính thống nhất, phù hợp và giá trị pháp lý trong các nội dung giải trình, các thông tin, chứng cứ do những người đại diện theo pháp luật khác nhau của cùng một doanh nghiệp đưa ra cũng cần phải được thực hiện một cách kỹ càng và khoa học. Đồng thời việc doanh nghiệp có nhiều hơn một người đại diện theo pháp luật cũng mở ra cơ hội và phương án tiếp cận hiệu quả trong trường hợp có một đại diện không thiện chí hợp tác, không thực hiện các yêu cầu về giải trình, cung cấp thông tin, chứng cứ theo đúng như đề nghị của cơ quan cạnh tranh.

5. Vấn đề về con dấu của doanh nghiệp

Tại Điều 44, Luật doanh nghiệp quy định doanh nghiệp có quyền quyết định về hình thức, số lượng và nội dung con dấu doanh nghiệp. Trước khi sử dụng con dấu, doanh nghiệp có nghĩa vụ thông báo mẫu con dấu với Cơ quan đăng ký kinh doanh để đăng tải công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Đây là cách tiếp cận hoàn toàn mới về con dấu doanh nghiệp, dù chưa thể bỏ hoàn toàn việc sử dụng con dấu nhưng là một bước cải cách lớn. Việc thay đổi như vậy cho thấy tư duy phát triển mới theo đó con dấu sẽ không còn mang nhiều ý nghĩa như cách suy nghĩ trước đây. Thay vào đó, giá trị giàng buộc và trách nhiệm pháp lý đã dần được trả lại đúng về cho chữ ký của người đại diện hợp pháp nhân danh doanh nghiệp. Và tư duy người đại diện hợp pháp của doanh nghiệp mới là người thay mặt, nhân danh doanh nghiệp đó ký các giấy tờ giao dịch với chủ thể khác cũng sẽ dần được trả lại đúng chỗ, thay thế cho cách nhìn nhận thiên về nâng cao tầm quan trọng đối với con dấu.

Với việc thay đổi như vậy của Luật doanh nghiệp thì tư duy và phương áp trong áp dụng và thực thi Luật cạnh tranh cũng cần có sự thay đổi tương ứng nhằm thích ứng với sự phát triển chung, đặc biệt cần có cách tiếp cận cởi mở hơn về giá trị pháp lý của một số loại tài liệu hay thông tin, chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra các vụ việc cạnh tranh.

6. Về ngành, nghề đăng ký kinh doanh

Theo quy định tại Điều 29, Luật Doanh nghiệp, nội dung trong giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp sẽ không có nội dung ngành, nghề kinh doanh kinh doanh. Đây là một trong những nội dung nhằm hiện thực hóa quyền tự do kinh doanh tất cả ngành nghề mà pháp luật không cấm. Đây cũng là một trong những điểm cần lưu ý trong quá trình áp dụng và thực thi Luật cạnh tranh, đặc biệt trong quá trình điều tra các vụ việc hạn chế cạnh tranh.

Thực tiễn quá trình điều tra các vụ việc hạn chế cạnh tranh thường phải gắn với việc xác định thị trường liên quan, xác định các doanh nghiệp đối thủ đang hoạt động kinh doanh trong một ngành, lĩnh vực nào đó. Việc xác định này, trong nhiều trường hợp trước đây, có thể cho kết quả nhanh hơn, chính xác hơn khi có được các thông tin thống kê chính xác về các doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh các ngành nghề hay lĩnh vực đó. Với sự thay đổi lớn trong cách tiếp cận quản lý doanh nghiệp theo hướng mở hơn như quy định của Luật doanh nghiệp hiện tại trong nhiều trường hợp có thể làm cho việc điều tra vụ việc hạn chế cạnh tranh sẽ phải tiêu tốn nhiều công sức và thời gian hơn.

7. Vấn đề hợp nhất và sáp nhập doanh nghiệp

Theo quy định tại Khoản 25, Điều 4, Luật doanh nghiệp, tổ chức lại doanh nghiệp là việc chia, tách, hợp nhất, sáp nhập hoặc chuyển đổi loại hình doanh nghiệp. Còn theo quy định tại Điều 16, Luật cạnh tranh, tập trung kinh tế là hành vi của doanh nghiệp bao gồm sáp nhập doanh nghiệp, hợp nhất doanh nghiệp, mua lại doanh nghiệp, liên doanh giữa các doanh nghiệp; và các hành vi tập trung kinh tế khác theo quy định của pháp luật. Như vậy, tổ chức lại doanh nghiệp theo Luật doanh nghiệp và tập trung kinh tế  theo Luật cạnh tranh về cơ bản là khác nhau nhưng có sự giống nhau là bao hàm các dạng hành vi hợp nhất sáp nhập.

7.1. Về hợp nhất doanh nghiệp

Theo quy định tại Điều 194, Luật doanh nghiệp, hợp nhất doanh nghiệp là trường hợp hai hoặc một số công ty (sau đây gọi là công ty bị hợp nhất) có thể hợp nhất thành một công ty mới (sau đây gọi là công ty hợp nhất), đồng thời chấm dứt tồn tại của các công ty bị hợp nhất. Còn theo quy định tại Khoản 2, Điều 17, Luật cạnh tranh, hợp nhất doanh nghiệp là việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các doanh nghiệp bị hợp nhất. Như vậy, về cơ bản khái niệm hợp nhất trong hai luật là thống nhất và không có sự mâu thuẫn. Mặc dù vậy, với đặc điểm là luật điều chỉnh hành vi nên Luật cạnh tranh không quy định về thủ tục tiến hành hợp nhất mà nội dung này được quy định cụ thể trong Luật doanh nghiệp.

Về việc điều chỉnh hành vi hợp nhất, quy định của Luật cạnh tranh và Luật doanh nghiệp mặc dù có sự thống nhất về ý tưởng nhưng quy định khác nhau nên việc thực thi có thể gặp một số khó khăn. Cụ thể, Luật cạnh tranh quy định cấm hợp nhất đối với trường hợp thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia hợp nhất chiếm trên 50% trên thị trường liên quan, trừ trường hợp được cho hưởng miễn trừ (theo Điều 19, Luật cạnh tranh) hoặc trường hợp doanh nghiệp sau hợp nhất vẫn thuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa (Điều 18, Luật cạnh tranh). Nếu các doanh nghiệp tham gia hợp nhất có thị phần kết hợp từ 30% đến 50% trên thị trường liên quan thì đại diện hợp pháp của các doanh nghiệp đó phải thông báo cho cơ quan quản lý cạnh tranh trước khi tiến hành hợp nhất. Trường hợp thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia hợp nhất thấp hơn 30% trên thị trường liên quan hoặc trường hợp doanh nghiệp sau khi hợp nhất vẫn thuộc loại doanh nghiệp nhỏ và vừa theo quy định của pháp luật thì không phải thông báo (Điều 20, Luật cạnh tranh).

Cũng trên tinh thần đó nhưng Luật doanh nghiệp quy định trường hợp hợp nhất mà theo đó công ty hợp nhất có thị phần từ 30% đến 50% trên thị trường liên quan thì đại điện hợp pháp của công ty bị hợp nhất phải thông báo cho cơ quan quản lý cạnh tranh trước khi tiến hành hợp nhất, trừ trường hợp pháp luật về cạnh tranh có quy định khác. Cấm các trường hợp hợp nhất mà theo đó công ty hợp nhất có thị phần trên 50% trên thị trường có liên quan, trừ trường hợp pháp luật về cạnh tranh có quy định khác (Khoản 3, Điều 194, Luật doanh nghiệp).

Có thể thấy quy định này của Luật doanh nghiệp khác với Luật cạnh tranh, bộc lộ những bất cập cần lưu ý. Thứ nhất, đó là có sự mâu thuẫn giữa các khái niệm trong chính Điều 194, Luật doanh nghiệp. Theo quy định tại Khoản 1, công ty hợp nhất là công ty mới được thành lập trên cơ sở các công ty bị hợp nhất. Vì vậy, nếu việc hợp nhất chưa được thực hiện thì không thể xác định được thị phần của công ty hợp nhất (tức công ty sau hợp nhất). Điều đó có nghĩa quy định này là bất khả thi. Thứ hai, là sự khác biệt tạo nên mâu thuẫn với Luật cạnh tranh, bởi thị phần kết hợp trên thị trường liên quan của các doanh nghiệp trước hợp nhất theo quy định của Luật cạnh tranh hoàn toàn khác và có bản chất khác với thị phần của công ty hợp nhất theo quy định của Luật doanh nghiệp. Thực tiễn, tổng thị phần kết hợp của các doanh nghiệp trên thị trường liên quan trước hợp nhất không nhất thiết phải bằng thị phần của doanh nghiệp sau hợp nhất (tức công ty hợp nhất theo Luật doanh nghiệp). Doanh nghiệp sau hợp nhất hoàn toàn có thể có mức thị phần lớn hơn hoặc nhỏ hơn thị phần kết hợp của các doanh nghiệp trước hợp nhất. Và mức thị phần này chỉ có thể được xác định thực tế sau khi việc hợp nhất đã được thực hiện. Thứ ba, việc Luật doanh nghiệp sử dụng khái niệm thị trường liên quan mặc dù có sự thống nhất và phù hợp với Luật cạnh tranh trong việc sử dụng thuật ngữ nhưng trong thực tế lại có sự bất cập bởi thị trường liên quan là khái niệm của Luật cạnh tranh. Các căn cứ và yếu tố xác định thị trường liên quan do Luật cạnh tranh quy định. Việc xác định thị trường liên quan thuộc thẩm quyền của cơ quan quản lý cạnh tranh. Vì vậy, để thực thi điều này trên thực tế cần phải dựa trên các quy định của Luật cạnh tranh.

7.2. Về sáp nhập doanh nghiệp

Theo quy định tại Điều 195, Luật doanh nghiệp, sáp nhập doanh nghiệp là trường hợp một hoặc một số công ty (sau đây gọi là công ty bị sáp nhập) có thể sáp nhập vào một công ty khác (sau đây gọi là công ty nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập. Còn theo quy định tại Khoản 1, Điều 17, Luật cạnh tranh sáp nhập doanh nghiệp là việc một hoặc một số doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình sang một doanh nghiệp khác, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bị sáp nhập.

Như vậy, khái niệm sáp nhập theo Luật cạnh tranh và Luật doanh nghiệp có sự thống nhất. Tuy nhiên, quy định kiểm soát hành vi sáp nhập theo Luật cạnh tranh và Luật doanh nghiệp khác nhau. Việc kiểm soát sáp nhập của Luật cạnh tranh dựa trên mức thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia sáp nhập trên thị trường liên quan hoặc quy mô của doanh nghiệp sau sáp nhập giống như trong trường hợp hợp nhất. Còn tại Khoản 3, Điều 195, Luật doanh nghiệp quy định trường hợp sáp nhập mà theo đó công ty nhận sáp nhập có thị phần từ 30% đến 50% trên thị trường liên quan thì đại điện hợp pháp của công ty thông báo cho cơ quan quản lý cạnh tranh trước khi tiến hành sáp nhập, trừ trường hợp pháp luật về cạnh tranh có quy định khác. Cấm các trường hợp sáp nhập mà theo đó công ty nhận sáp nhập có thị phần trên 50% trên thị trường có liên quan, trừ trường hợp pháp luật về cạnh tranh có quy định khác. Cũng giống như đã phân tích đối với trường hợp hợp nhất, quy định này có sự khác biệt so với Luật cạnh tranh bởi thị phần kết hợp của các doanh nghiệp tham gia sáp nhập trên thị trường liên quan hoàn toàn khác với mức thị phần trên thị trường liên quan của công ty nhận sáp nhập.

8. Một số nội dung khác

Ngoài những nội dung nêu trên, một số quy định mới khác trong Luật doanh nghiệp cũng cần được lưu ý và vận dụng trong quá trình áp dụng Luật cạnh tranh khi cần thiết. Ví dụ như các quy định về lưu biên bản cuộc họp, xác định địa điểm họp là nơi có chủ toạ tham dự họp, quy định về địa chỉ thường trú,  trụ sở chính của doanh nghiệp, quy định về chi nhánh, văn phòng đại diện và địa điểm kinh doanh của doanh nghiệp.

                                                                                    Phùng Văn Thành (Phòng Điều tra vụ việc hạn chế cạnh tranh)

[1] Điều 1, Luật doanh nghiệp.

[2] Ngoài các doanh nghiệp, tại Nghị định số 43/2010/NĐ-CP ngày 15 tháng 04 năm 2010 của Chính phủ quy định về đăng ký doanh nghiệp có xác định các chủ thể là cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình kinh doanh. Và tại Điều 49 của Nghị định quy định rõ hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh. Hộ kinh doanh có sử dụng thường xuyên hơn mười lao động phải chuyển đổi sang hoạt động theo hình thức doanh nghiệp. Ngay tại Khoản 2, Điều 22, Luật doanh nghiệp cũng quy định hộ kinh doanh sử dụng thường xuyên từ 10 lao động trở lên phải đăng ký thành lập doanh nghiệp hoạt động theo quy định của Luật này. Hộ kinh doanh có quy mô nhỏ thực hiện đăng ký kinh doanh và hoạt động theo quy định của Chính phủ.

  • Tags:

Tìm từ ngày

Tìm đến ngày