Liên kết website

Giới thiệu về quản lý nhà nước về bán hàng đa cấp

 Quản lý hoạt động bán hàng đa cấp tại Việt Nam

Bán hàng đa cấp ra đời ở Mỹ từ những năm 40 của thế kỷ XX. Trải qua các giai đoạn phát triển khác nhau, đến nay bán hàng đa cấp đã trở nên phổ biến trên toàn thế giới và được ghi nhận là một phương thức phân phối và tiêu thụ hàng hóa hiệu quả.

Bán hàng đa cấp du nhập vào Việt Nam từ những năm cuối thế kỷ XX. Đến năm 2004, có khoảng 20 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực này. Trong những năm đầu mới xuất hiện ở Việt Nam, hoạt động bán hàng đa cấp chưa có hành lang pháp lý điều chỉnh.

Năm 2004, lần đầu tiên thuật ngữ “bán hàng đa cấp” được ghi nhận trong hệ thống pháp luật Việt Nam tại khoản 11 Điều 3 Luật Cạnh tranh. Tiếp sau đó, Chính phủ và Bộ Công Thương cũng ban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh một cách toàn diện đối với hoạt động này.

Từ khi được thừa nhận và điều chỉnh bởi các văn bản quy  phạm pháp luật, ngành bán hàng đa cấp phát triển mạnh mẽ với sự ra đời của hàng loạt doanh nghiệp. Tính đến năm 2013, ngành bán hàng đa cấp có hơn 100 doanh nghiệp đăng ký hoạt động với hơn một triệu người tham gia trên cả nước.

Tuy nhiên, do mới vào Việt Nam trong một thời gian ngắn, lịch sử hoạt động chưa còn non trẻ, bán hàng đa cấp bị một số chủ thể lợi dụng để thực hiện các hành vi lừa đảo, gây dư luận xấu trong xã hội và ảnh hưởng lớn đến uy tín của ngành. Hiện nay, nhắc đến bán hàng đa cấp, không ít người tỏ ra thiếu thiện cảm và quan niệm đó là một lĩnh vực kinh doanh không lành mạnh.

I. Pháp luật điều chỉnh

Trước ngày 01 tháng 7 năm 2014, bên cạnh Luật Cạnh tranh 2004,  bán hàng đa cấp được điều chỉnh bởi Nghị định số 110/2005/NĐ-CP về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp, Nghị định số 120/2005/NĐ-CP về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh, Thông tư số 19/2005/TT-BTM hướng dẫn một số nội dung quy định tại Nghị định số 110/2005/NĐ-CP và Thông tư số 35/2011/TT-BCT sửa đổi bổ sung Thông tư số 19/2005/TT-BTM.

Mặc dù là văn bản quy phạm pháp luật đầu tiên và cao nhất điều chỉnh đối với hoạt động bán hàng đa cấp nhưng Luật Cạnh tranh chỉ đưa ra khái niệm về bán hàng đa cấp và quy định cấm một số hành vi bán hàng đa cấp bất chính bị cấm mà chưa đưa ra cơ chế quản lý đối với hoạt động này.

Nghị định 110/2005/NĐ-CP chính thức thiết lập một cơ chế quản lý đối với hoạt động bán hàng đa cấp từ trung ương đến địa phương với sự tham gia của Bộ Công Thương (thông qua Cục Quản lý cạnh tranh) và Ủy ban nhân dân các tỉnh (thông qua các Sở Công Thương). Theo Nghị định 110/2005/NĐ-CP, các doanh nghiệp muốn tổ chức bán hàng đa cấp thì phải đăng ký với Sở Công Thương và sau đó mở rộng hoạt động ra địa bàn nào thì thông báo với Sở Công Thương tỉnh đó. Một trong những điều kiện quan trọng để doanh nghiệp được đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp đó là phải ký quỹ tối thiểu 5% vốn điều lệ nhưng không thấp hơn một tỷ đồng.

Để đảm bảo hiệu quả của cơ chế quản lý tại Nghị định 110/2005/NĐ-CP, Nghị định 120/2005/NĐ-CP quy định chế tài xử lý đối với hành vi bán hàng đa cấp bất chính với mức tiền phạt cao nhất là 100 triệu đồng.

Thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động bán hàng đa cấp và các vấn đề cụ thể chưa được quy định tại Luật Cạnh tranh và các Nghị định nêu trên được quy định tại Thông tư số 19/2005/TT-BTM và Thông tư số 35/2011/TT-BCT.

Sau gần 10 năm thực hiện, các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý bán hàng đa cấp đã bộc lộ một số bất cập, hoạt động bán hàng đa cấp xuất hiện nhiều biến tướng theo chiều hướng tiêu cực, nhiều chủ thể lợi dụng các khe hở của pháp luật để thực hiện các hành vi bất chính khiến cho hoạt động bán hàng đa cấp ngày càng trở nên xấu đi trong mắt cộng đồng xã hội và gây khó khăn cho công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động này. Từ thực tiễn đó, năm 2014, Chính phủ đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật mới thay thế cho hệ thống văn bản cũ để tăng cường hiệu quả quản lý hoạt động bán hàng đa cấp. Ngoại trừ Luật Cạnh tranh, các Nghị định và Thông tư cũ điều chỉnh hoạt động bán hàng đa cấp đều bị thay thế với cơ chế quản lý chặt chẽ hơn, chế tài xử lý nghiêm khắc hơn.

Nghị định số 42/2014/NĐ-CP về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp, được ký ban hành ngày 14 tháng 5 năm 2014, chính thức có hiệu lực từ 01 tháng 7 năm 2014. Nghị định này thay thế cho Nghị định 110/2005/NĐ-CP về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp với những thay đổi cơ bản, quan trọng theo hướng thắt chặt quản lý đối với hoạt động bán hàng đa cấp như nâng cao điều kiện gia nhập, nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp đối với hoạt động của người tham gia, bổ sung nhiều quy định cấm, tăng cường sự tương tác giữa doanh nghiệp với cơ quan quản lý cũng như giữa các cơ quan quản lý, kiểm soát chặt chẽ hơn công tác đào tạo người tham gia của doanh nghiệp.

Cùng quan điểm thắt chặt quản lý hoạt động bán hàng đa cấp của Nghị định 42/2014/NĐ-CP, Nghị định 71/2014/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh (thay thế Nghị định số 120/2005/NĐ-CP) cũng nâng cao mức tiền phạt đối với hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động bán hàng đa cấp lên tối đa 200 triệu đồng và bổ sung quy định xử lý đối với nhiều hành vi mới được quy định tại Nghị định 42/2014/NĐ-CP.

Thủ tục hành chính trong hoạt động bán hàng đa cấp được quy định chặt chẽ tại Thông tư 24/2014/TT-BCT, thay thế cho các quy định tại Thông tư 19/2005/TT-BTM và 35/2011/TT-BCT.

Với những thay đổi cơ bản, quan trọng trong cơ chế quản lý hoạt động bán hàng đa cấp như trên, các cơ quan quản lý rất kỳ vọng vào khả năng nâng cao hiệu quả quản lý đối với hoạt động bán hàng đa cấp trong thời gian tới.

II. Cơ quan quản lý nhà nước về bán hàng đa cấp

Các cơ quan quản lý nhà nước về bán hàng đa cấp được quy định tại Chương 6 Nghị định 42/2014/NĐ-CP, cụ thể:

Cơ quan Quản lý cạnh tranh thuộc Bộ Công Thương có trách nhiệm giúp Bộ trưởng Bộ Công Thương thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp trong phạm vi cả nước trong các nội dung:

- Cấp, sửa đổi, bổ sung, gia hạn, cấp lại, thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp;

- Thu, quản lý và sử dụng phí, lệ phí cấp, sửa đổi, bổ sung, gia hạn, cấp lại Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp theo quy định của pháp luật;

- Thông báo việc cấp, sửa đổi, bổ sung, gia hạn, thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp tới các Sở Công Thương nơi doanh nghiệp tổ chức hoạt động bán hàng đa cấp;

- Lưu trữ hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp;

- Hướng dẫn, phối hợp với các Sở Công Thương và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác tiến hành kiểm tra, giám sát hoạt động bán hàng đa cấp;

- Trực tiếp kiểm tra, giám sát hoạt động bán hàng đa cấp khi cần thiết; xử lý theo thẩm quyền hoặc thông báo, chuyển cơ quan có thẩm quyền xử lý các hành vi vi phạm quy định của pháp luật về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp;

- Xây dựng và trình các cấp có thẩm quyền ban hành hoặc sửa đổi các văn bản pháp luật có liên quan đến việc bảo đảm trật tự trong tổ chức hoạt động bán hàng đa cấp, bảo vệ quyền lợi của người tham gia bán hàng đa cấp, người tiêu dùng và giữ ổn định kinh tế - xã hội;

- Thực hiện các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.

Sở Công Thương có trách nhiệm giúp Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện quản lý nhà nước đối với hoạt động bán hàng đa cấp tại địa phương trong các nội dung:

- Thanh tra, kiểm tra, giám sát theo thẩm quyền hoạt động bán hàng đa cấp tại địa phương;

- Xử lý theo thẩm quyền hoặc báo cáo cấp có thẩm quyền xử lý các vi phạm pháp luật về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp theo quy định của pháp luật;

- Báo cáo Bộ Công Thương về việc tiếp nhận hồ sơ thông báo hoạt động của doanh nghiệp bán hàng đa cấp tại địa phương;

- Báo cáo theo định kỳ hàng năm với Bộ Công Thương về kết quả kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm pháp luật về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp trên địa bàn;

- Thực hiện các trách nhiệm khác theo quy định của pháp luật.

III. Xử lý vi phạm pháp luật về bán hàng đa cấp

Vấn đề xử lý vi phạm pháp luật trong hoạt động bán hàng đa cấp được quy định tại Nghị định số 71/2014/NĐ-CP về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh và Nghị định số 185/2013/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động thương mại, sản xuất, buôn bán hàng giả, hàng cấm và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Về đối tượng xử phạt, Nghị định số 185/2013/NĐ-CP quy định việc xử phạt đối với cả người tham gia bán hàng đa cấp và doanh nghiệp bán hàng đa cấp. Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định này thuộc về các cơ quan quản lý liên quan như Chủ tịch ủy ban nhân dân các cấp, cơ quan quản lý thị trường… Về thủ tục, việc xử phạt theo các quy định tại Nghị định số 185/2013/NĐ-CP được thực hiện theo thủ tục xử lý vi phạm hành chính quy định tại Luật Xử lý vi phạm hành chính và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Nghị định số 71/2014/NĐ-CP quy định chi tiết Luật Cạnh tranh về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh, do đó: (1) Thủ tục xử lý vi phạm pháp luật theo Nghị định này được thực hiện theo quy trình tố tụng cạnh tranh quy định tại Luật Cạnh tranh và Nghị định 116/2005/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Cạnh tranh; (2) Thẩm quyền xử phạt đối với các hành vi vi phạm trong hoạt động bán hàng đa cấp thuộc về Cục Quản lý cạnh tranh – Bộ Công Thương (cơ quan quản lý cạnh tranh); (3) Tương ứng với đối tượng điều chỉnh của Luật Cạnh tranh, Nghị định 71/2014/NĐ-CP chỉ quy định việc xử phạt đối với doanh nghiệp bán hàng đa cấp, không quy định việc xử phạt đối với người tham gia bán hàng đa cấp. Ngoài ra, theo Nghị định 71/2014/NĐ-CP, phạm vi hành vi bị xử lý được mở rộng hơn so với Nghị định 185/2013/NĐ-CP và mức phạt tối đa cũng được quy định cao hơn (200 triệu đồng).